About me

My photo
Blog được viết khi rảnh và chỉ để các bạn muốn kiếm tiền online có thêm info. Nghề nghiệp chính không phải kiếm tiền online :)

Saturday, January 10, 2009

Cách chọn những cổ phiếu triển vọng

Cách chọn những cổ phiếu triển vọng

Đôi khi, các nhà đầu tư cần phải thận trọng với những cổ phiếu đang có chiều hướng tăng giá. Nhưng điều này cũng không có nghĩa là những cổ phiếu đắt giá sẽ không mang lại lợi nhuận.

Xem hình

Nhiều khi, những cổ phiếu có thể mang lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư lại thường không được đánh giá đúng mức. Để có thể tìm ra những cổ phiếu triển vọng, bạn cần phải phân tích các số chỉ số của công ty phát hành cổ phiếu.

Đôi khi, các nhà đầu tư cần phải thận trọng với những cổ phiếu đang có chiều hướng tăng giá. Nhưng điều này cũng không có nghĩa là những cổ phiếu đắt giá sẽ không mang lại lợi nhuận. Để có thể đánh giá đúng, bạn cần phải so sánh giá cổ phiếu với lợi nhuận và triển vọng kinh doanh của công ty phát hành cổ phiếu. Chúng tôi nói điều này chỉ với hàm ‎ý rằng những cổ phiếu đang tăng giá nhanh chóng chưa chắc đã phải là mục tiêu tốt để đầu tư.

Những người chơi chứng khoán thường sử dụng những chỉ số cơ bản về hoạt động kinh doanh của những công ty phát hành cổ phiếu để xác định cổ phiếu được đánh giá đúng mức hay quá mức. Tuy nhiên, sẽ là không đủ nếu bạn chỉ xem xét một chỉ số nào đó, bạn cần phải đánh giá tổng thể tất cả các chỉ số mới có thể đưa ra được kết luận gần đúng rằng: loại cổ phiếu này có đáng mua hay không.

Chỉ số P/E

P/E (Price/Earnings Ratio) là hệ số giữa thị giá (giá trị công ty theo thị giá hay giá trị vốn hóa của công ty) trên thu nhập. Đây là một trong những chỉ số thông dụng nhất mà các nhà đầu tư thường xem xét trước khi mua cổ phiếu. Người nắm giữ cổ phiếu cũng là những đồng sở hữu của công ty, vì vậy, giá trị cổ phiếu quan hệ mật thiết với lợi nhuận công ty. Chỉ số P/E cao thì cổ phiếu có nguy cơ bị đánh giá quá mức so với lợi nhuận thật và ngược lại.

Bạn cần so sánh chỉ số P/E của những công ty hoạt động trong cùng một lĩnh vực kinh doanh. Nếu P/E của một công ty nào đó cao hơn mức trung bình, thì điều đó có nghĩa những nhà đầu tư đang kỳ vọng vào sự tăng trưởng của công ty phát hành cổ phiếu và cũng như sự tăng trưởng những chỉ số tài chính của nó. Trong trường hợp, lòng mong mỏi của các nhà đầu tư không sát với thực tế, thì giá cổ phiếu sẽ hạ.

Bạn cần nhớ rằng, đối với các lĩnh vực kinh doanh khác nhau thì chỉ số P/E trung bình cũng khác nhau. Thông thường, những công ty công nghệ thường có chỉ số P/E cao (ví dụ, P/E của Google là 46,3) những công ty kinh doanh trong lĩnh vực nguyên liệu có chỉ số này thấp hơn (P/E của tập đoàn dầu lửa ExxonMobil là 11,4, mặc dù năm 2006, tập đoàn này thu được lợi nhuận kỷ lục trong lịch sử nước Mỹ là 39,5 tỷ USD. P/E của tập đoàn dầu lửa Lukoil là 8,4). Đối với các công ty thuộc các nước đang phát triển chỉ số này thường thấp hơn ở những nước phát triển cao.

Theo các các nhà nghiên cứu về thị trường chứng khoán của Mỹ và cả từ kinh nghiệm thực tế cho thấy: việc mua những cổ phiếu có chỉ số P/E thấp thường dễ thành công hơn. Vài năm trước, Warren Edward Buffett, một nhà đầu tư chứng khoán nổi tiếng trên thế giới, đã mua cổ phiếu của một số công ty Hàn Quốc có chỉ số P/E từ 2-4, từ bấy đến nay những công ty này đã tăng trưởng vượt bậc.

Dòng tiền rỗi

Việc xem xét chỉ số thị giá trên dòng tiền rỗi (số tiền còn lại của công ty sau khi thanh toán hết các chi phí) P/CF cũng không kém phần quan trọng. Nhiều nhà phân tích khi đánh giá một cổ phiếu nào đó, họ không quá chú trọng đến lợi nhuận của công ty phát hành cổ phiếu mà tập trung vào dòng tiền rỗi của công ty đó. Nếu P/CE thấp có nghĩa hoạt động kinh doanh của công ty phát hành cổ phiếu đang trong trạng thái lành mạnh và còn nhiều tiền để trả lợi tức cổ phần hoặc mua cổ phiếu, điều này có nghĩa thu nhập của cổ đông sẽ tăng. Venant Sandar, thày giáo dạy môn phân tích thị trường chứng khoán của trường Tuck School of Business, nói: giá trị của một doanh nghiệp nằm chính ở dòng tiền rỗi.

Tuy nhiên, chỉ số P/CF thấp có thể là một cái bẫy khi công ty dự trữ quá nhiều tiền mặt mà không đầu tư thích đáng để phát triển kinh doanh. “Cổ phiếu có P/CF thấp hoàn toàn có thể chẳng đáng để mua, - S
wot Damodaran từ trường Stern School of Business thuộc Đại học tổng hợp News York, nói. – Có thể công ty này chưa đầu tư đúng mực và đang cần phải đầu tư rất nhiều”.

Khấu trừ nợ

Hệ số P/BV = thị giá trên giá trị của công ty theo tính toán sổ sách (tài sản của công ty trừ đi các khoản nợ và các khoản mà công ty phải chi trả) là một chỉ số quan trọng nữa. Ví dụ, nếu giá trị của công ty theo thị giá là 2 tỷ USD và giá trị của công ty theo tính toán sổ sách là 1 tỷ đô, thì P/BV =2.

Nếu chỉ số P/BV không lớn lắm, thì đây là tín hiệu an toàn cho sự đầu tư của bạn. Vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước, khi thị trường chứng khoán của Mỹ như quả bóng căng khí, chỉ số P/BV trung bình của S&P 500 (500 công ty thuộc Standard & Poor) rất cao và bằng 4,5. Giá trị của cổ phiếu được đánh giá cao quá mức, BV thì thấp vì những khoản nợ lớn. Khi quả bóng xì hơi, nền kinh tế Mỹ rơi vào khủng hoảng, cổ phiếu giảm giá, nhiều công ty phải cải tổ lại và tích cực hoàn trả những món nợ. Trong những năm gần đây P/BV của S&P 500 xấp xỉ 3,1.

“Phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của công ty mà chỉ số P/BV có thể rất có
ý‎ nghĩa hoặc không có ‎ý nghĩa mấy trong việc đánh giá cổ phiếu do công ty đó phát hành, - Terri O’Connor, người lãnh đạo Quỹ Cedar Creek, nói – BV rất quan trọng khi đánh giá những công ty hoạt động trong các lĩnh vực tài chính nhưng hầu như không có‎ ý nghĩa gì đối với những hãng sản xuất phần mền. Trong BV không tính đến giá trị của các bằng sáng chế, thương hiệu cũng như không phản ánh những thành tựu của công ty trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học cũng như kinh nghiệm thiết kế và khả năng sáng tạo của các nhân viên – có nghĩa tất cả những yếu tố đóng vai trò sống còn đối với các hãng công nghệ và dược phẩm. Đối với những công ty này, thông thường BV rất thấp còn P/BV lại rất cao”.

Ngoài lĩnh vực tài chính, chỉ số P/BV còn quan trọng khi bạn đánh giá các công ty hoạt động trong một số lĩnh vực khác, ví dụ như xây dựng.

Chỉ số thị giá công ty chia cho doanh số bán hàng của công ty đó
(Price/Sales) cũng hay được sử dụng khi đánh giá triển vọng của cổ phiếu. Một số nhà phân tích thị trường chứng khoán thường thích những công ty có doanh số bán hàng cao. Nếu một công ty có thị giá là 500 triệu USD và doanh số bán hàng là 1 tỷ USD thì chỉ số này sẽ bằng 0,5.

Tuy nhiên, bạn cần phải lưu
ý, doanh số lớn chưa chắc đã đồng hành với lợi nhuận cao. Vì vậy, những công ty có chỉ số P/S thấp cần phải có kế hoạch tăng lợi nhuận, còn bằng không cổ phiếu của công ty đó sẽ hạ.

Bảng điện tử và vũ điệu của những con số

Bảng điện tử và vũ điệu của những con số

Chứng khoán, Thị trường chứng khoán… nghe những từ chuyên ngành quá mới như vậy, quý vị không khỏi ngán ngẩm bỏ qua. Tuy nhiên, chứng khoán hay TTCK lại đang là vấn đề nóng, một kênh đầu tư thời thượng ở Việt Nam hiện nay. Nếu hiểu nhầm mà coi TTCK như “chiếu bạc” rồi bỏ qua... Sự thật là chỉ ít năm nữa thôi, quý vị sẽ thấy mình đã sai, đã lạc hậu và thiệt thòi giống như việc không sử dụng được máy vi tính vậy.

Ngày chưa quan tâm đến Thị trường Chứng khoán (TTCK), tôi cũng như quý vị, không thể hiểu nổi trên cái bảng điện tử ấy, những hàng cột, những con số, những chữ cái… xếp ngang, dọc, màu xanh, đỏ… nói gì?

Nhưng cuối cùng, cái bảng điện tử thật là đơn giản nếu quý vị gắng đọc kỹ chùm bài KIẾN THỨC PHỔ THÔNG này:

* Trước hết, hãy coi bảng điện tử đó như là một cái chợ. Là một cái chợ thì phải hội đủ 4 yếu tố:

1. Có hàng hóa để bán (chính là các mã Chứng khoán)

2. Có người bán (gọi là Nhà đầu tư)

3. Có người mua (gọi là Nhà đầu tư)

4. Mỗi hàng hóa phải có giá để mua và bán (tức giá Chứng khoán hay giá cổ phiếu).

Biết được 4 yếu tố cơ bản để hình thành một cái chợ, giờ ta tìm hiểu chợ hoạt động như thế nào?

Chợ được sắp xếp bởi các hàng cột ngang và dọc: hàng ngang, biểu thị toàn bộ các diễn biến giao dịch của 1 mã cổ phiếu trong phiên giao dịch. Hàng dọc, sắp xếp thứ tự các mã cổ phiếu và thứ tự các chỉ số của mã chứng khoán đó.

Ví dụ: bảng điện tử hay sắp xếp các cột như sau:

Mã CK

Trần

Sàn

Tham chiếu

Dư mua

Khớp lệnh

Dư bán

Bảng giá TT HoSTC và Bảng giá TT HaSTC
1. Ở cột thứ nhất (Ký hiệu các Mã chứng khoán), các mã chứng khoán được xắp xếp theo vần chữ cái A, B, C… từ trên xuống dưới. Quý vị thấy, đầu tiên là ABT ròi đến ACL tiếp là AGF... cứ như vậy hơn 130 mã và cuối cùng là mã VTO.
Các mã chứng khoán, là ký hiệu viết tắt của các Công ty niêm yết cổ phiếu của họ trên bảng điện tử.
Ví dụ: ABT là Công ty Thủy XNK sản Bến Tre;
ACL là Công ty XNK thủy sản Cửu long An Giang…
... VTO là Công ty vận tải xăng dầu VITACO
2. Ở cột thứ hai (tôi muôn nói trước đến Giá Tham chiếu): nghĩa là các chứng khoán như ABT, AGF hay là VTO… ngày hôm qua, đã được các nhà đầu tư đồng ý mua ở 1 mức giá nhất định gọi là giá tham chiếu, để phiên giao dịch hôm sau, nhà đầu tư căn cứ vào mức giá tham chiếu mà mua, bán.
Ví dụ: giá tham chiếu ABT là 93.500 đ/CP - ALC là 86.500 đ/CP - AGF là 88.500 đ/CP và VTO là 91.000 đ/CP, các giá 93.5 , 88.5 hay 91 được gọi là giá tham chiếu cho phiên giao dịch sáng hôm nay. Căn cứ vào giá tham chiếu, nhà đầu tư sẽ quyết định mua các cổ phiếu nói trên là đắt hơn hay rẻ hơn giá tham chiếu.
Rồi sau phiên giao dịch hôm nay, các cổ phiếu ABT, ACL, AGF hay VTO được mua ở mức giá đóng cửa là bao nhiêu thì lại lấy giá đó làm giá tham chiếu cho ngày hôm sau.
3. Ở cột thứ ba (Giá trần - màu tím): hiểu đơn giản là trần nhà (CE –tiếng Anh). Tại sao lại có giá trần? Vì TTCK Việt Nam quy định, từ giá tham chiếu, biên độ tăng/giảm của giá chứng khoán trong mỗi ngày giao dịch chỉ được phép tăng 5%.
Ví dụ: nếu giá ABT có giá tham chiếu hôm trước là 93.500 đ, thì mở cửa giao dịch phiên hôm nay, giá ABT chỉ được phép tăng 5%, tức sẽ lên đến 98.000đ/CP
Nhà đầu tư muốn mua đắt lên đến 99.000đ cũng không được (vì không hợp lệ) vì quá giá trần. Vì thế trên các bản tin Tivi, quý vị hay nghe đến câu: “Phiên giao dịch hôm nay hầu hết cổ phiếu đã tăng kịch trần…”.
4. Ở cột bốn (Giá sàn): hiểu đơn giản là sàn nhà (Flo – tiếng Anh), cũng giống như trên, TTCK Việt Nam quy định, biên độ giảm giá của chứng khoán mỗi phiên chỉ giảm 5%.
Tức cổ phiếu ABT nếu bị giảm giá sàn thì từ 93.500đ, sẽ giảm xuống còn 89.000 đ/CP. Nếu ABT vì làm ăn không tốt mà giảm giá thì phiên ngày mai sẽ giảm tiếp 5% của 89.000 đ. Chính vì vậy, nhà đầu tư cũng hay nghe nói trên bản tin Tài chính cụm từ: “Nhiều cổ phiếu hôm nay đã giảm giá sàn…” là như vậy.
Qua bốn cột của bảng điện tử, quý vị hiểu: giá tham chiếu - giá trần - giá sàn là gì. Giờ quý vị bắt đầu tìm hiểu nguyên tắc giao dịch (tức mua và bán) trong phiên.
5. Cột dư mua (tức Người mua cổ phiếu): Hiện, TTCK Việt Nam có 300 nghìn tài khoản, nghĩa là 300 nghìn nhà đầu tư (NĐT) đã tham gia thị trường. Trong mỗi phiên giao dịch, mỗi NDT sẽ thích mua một cổ phiếu khác nhau, hay mua với một giá khác nhau ở cùng một cổ phiếu.

Ví dụ: Với ABT, giá tham chiếu cho hôm nay là 93.500 đ/CP, Nhưng vì tôi rất thích ABT, tôi muốn mua bằng được nên tôi đặt giá trần 98.000 đ/CP.

Nhà đầu tư nào đó, không thích ABT lắm nên họ đặt giá sàn là 89.000 đ/CP, rẻ thì mua không thì thôi. Và Nhà đầu tư này không thể đặt mua rẻ hơn nữa vì 89.000 đ/CP là đã kịch giá sàn, tức giảm 5% của 93.500 đ.

Còn Nhà đầu tư khác nữa, "nửa thích, nửa không thích", họ sẽ đặt mua bằng giá tham chiếu là 93.500 đ/CP hay họ có thể đặt mua với giá thấp hơn là 92.500 đ, hoặc 92.000 đ... miễn là trong phạm vi giảm 5% từ giá tham chiếu.

Thường tâm lý NDT luôn muốn mua rẻ, nên quý vị hay thấy, bên cột Dư mua, giá đặt mua bao giờ cũng rẻ hơn so với giá tham chiếu.

6. Cột Dư bán (Người bán): Ở đây, người bán là những người đã có cổ phiếu rồi. Khi vào phiên, họ đặt bán, mà tâm lý người bán thì bao giờ cũng muốn bán đắt hơn khi mua nên họ sẽ đặt bán với giá cao hơn giá tham chiếu. Nhìn trên bảng điện tử, quý vị thấy rất rõ điều này khi họ đặt bán với các giá: 94.000 đ/CP hoặc 95.000 đ/CP (màu xanh).

Quý vị thắc mắc, có giá tham chiếu kìa (93.500 đ - màu vàng)! vâng, vì nhà đầu tư nào đó cầm giữ ABT mãi mà không tăng giá nên đặt bán bằng giá tham chiếu để bán được nhanh để chuyển sang mua cổ phiếu khác...

Chú ý: Vì bảng điện tử chỉ hiện lên 3 giá làm mẫu, chứ không thể đăng tải hàng trăm mức giá khác nhau của nhà đầu tư. Vì vậy trên bảng điện tử mới hiện giá 1 – giá 2 – giá 3 đi kèm theo đó bảng cũng cho biết ở mức giá 1 thì khối lượng (KL) 1 là bao nhiêu? – giá 2 thì khối lượng 2? và mức giá 3 thì khối lượng 3 là bao nhiêu?

7. Cột khớp lệnh hay còn gọi Thị trường đóng cửa (ở cột này, Khối lượng cổ phiếu khớp lệnh, giá khớp lệnh, biên độ tăng/giảm giá cổ phiếu) nằm cả trong này.

Giá Khớp lệnh: Nghĩa là giá mà người mua và bán đã thực hiện. Ví dụ: ABT được khớp lệnh với giá 93.000 đ/CP, giảm 500 đ/CP (ký hiệu giảm giá là tam giác hướng xuống màu đỏ - Khối lượng cổ phiếu khớp lệnh giá đó là 527 CP).

Ký hiệu tăng/giảm: hay ký hiệu bằng mũi tên hướng lên hoặc lao xuống. Hướng lên (tức màu xanh như ACL) là tăng giá; Lao xuống (màu đỏ như ABT) là giảm giá; hướng lên (màu tím như ALT) là tăng trần – Lao xuống (màu ghi xám) là giảm giá sàn.

Cột Khối lượng: đó là số lượng của một mã cổ phiếu được mua – bán thành công ở mức giá khi thị trường đóng cửa (tức kết thúc phiên giao dịch hay ngày giao dịch).

Tôi chắc rằng, quý vị đã phần nào hiểu ra cái bảng điện tử (cái chợ điện tử) giờ đây đã không còn khó hiểu nữa!

Nhưng tôi cũng chắc chắn điều rằng, hiểu được các thuật ngữ và sự sắp xếp trên bảng điện tử, quý vị mới chỉ biết được giống như biết về từ Biển chẳng hạn. Còn biển nông, sâu thế nào, các bước sóng, thủy triều lên hay sóng thần ra sao… còn rất nhiều điều phức tạp. Nhưng từ từ rồi quý vị cũng sẽ hiểu ra tất cả, VNCF cam kết sẽ cùng quý vị trở thành những nhà đầu tư chuyên nghiệp.

Phương pháp đầu tư theo chu kỳ - lợi nhuận

Vâng! Nếu tôi cũng viết phần kiến thức phổ thông từ A – Z, quý vị sẽ rời bỏ phần này luôn và tìm đến phần PHÂN TÍCH KỸ THUẬT – Phân tích cổ phiếu của trang Web này để biết, ngày mai nên đầu tư vào “con gì?”… Vì thế tôi phải vào ngay vấn đề một cách thực tế nhất.

Phương pháp đầu tư theo chu kỳ - lợi nhuận đạt tối thiểu 30%/năm!

Hỏi nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm kiểu… phong trào trên các sàn chứng khoán, phần lớn đều thừa nhận, tính đi tính lại (tức cả lãi và lúc lỗ), một năm lợi nhuận chỉ đạt từ 20 – 30%. Còn nếu là nhà đầu tư mới, lãi lỗ không lường tính được!

Tuy nhiên, với nhà đầu tư đã có kinh nghiệm, để đạt 30% lợi nhuận, họ cũng thừa nhận: phải ăn chứng khoán, ngủ chứng khoán, tóc tai dựng ngược cả lên vì chứng khoán!

Sự vận hành của TTCK cũng giống như quy luật tự nhiên: cứ tăng - giảm – tăng – giảm như Xuân – Hạ - Thu – Đông.

Ví dụ từ đầu năm 2007 trở lại đây:

Tháng 3 thị trường tăng tới 1.176 điểm

Tháng 4 thị trường giảm còn 905 điểm

Tháng 5 thị trường lại tăng lên 1.031 điểm

Tháng 8 thị trường rơi xuống 883 điểm

Tháng 10 lại tăng lên 1.106 điểm

Hiện nay đang ở mức 972 điểm (ngày 30/10/2007) người ta đang chờ đợi một đợt tăng vào cuối tháng 12 này...

Diễn giải như trên để thấy rằng, TTCK Việt Nam hay bất kỳ TTCK nào trên TG cũng vận động theo chu kỳ hình SIN tăng/giảm. Chỉ có điều, TTCK Việt Nam là thị trường mới, tính ổn định chưa cao nên mới xảy ra biến động tăng/giảm liên tục và biên độ biến động lớn. Nhưng biên độ biến động như thế mới dễ sinh lời cho nhà đầu tư.

Thường mỗi đợt VN-Index tăng hay giảm đều khoảng chừng 30%/đợt. Nghĩa là giá chứng khoán cũng sẽ tăng/giảm 30% mỗi đợt. Với TTCk Việt Nam, người ta hay lấy VN-Index làm đại diện tính điểm tăng - giảm cho thị trường ầu tư tuân theo phương pháp đầu tư CHU KỲ, nghĩa là chỉ đầu tư theo mùa (tức mùa mua vào lúc giảm – mùa bán vào lúc tăng giá)

VN-Index hiểu đơn giản là tổng giá cả của giá những cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch TP Hồ Chí Minh (tức sàn HoSTC). VN-Index cao điểm tức là giá cổ phiếu cao, VN-Index giảm điểm là giá cổ phiếu đã rẻ (giảm giá) tương ứng.

Nắm được sự vận hành có tính quy luật như vậy, nhiều nhà đầu tư đã tuân thủ phương pháp đầu tư CHU KỲ và hầu hết đều giành thắng lợi.

Mỗi năm, sự tăng giảm của TTCK Việt Nam xảy ra từ 4 đến 5 chu kỳ như vậy. Đầu tư theo CHU KỲ, chỉ tính mỗi chu kỳ nhà đầu tư lãi được 5% - 7%/chu kỳ. Vậy thì qua đầu tư 4 đến 5 chu kỳ kể trên, mức lãi 30%/năm là hoàn toàn có khả năng. Thậm chí, khá nhẹ nhàng, không phải ăn chứng khoán, ngủ chứng khoán...

"Nói thì dễ, làm mới khó! Ai chẳng biết điều đó..." sự thật là vậy!

Nhưng đúng là nhiều người biết quá, nó đơn giản quá nên quá ít nhà đầu tư tuân thủ phương pháp đầu tư CHU KỲ.

Tôi dám chắc rằng, nếu đầu tư theo chu kỳ, mức lãi sẽ không phải chỉ 30%/năm vì nếu dày dạn kinh nghiệm có thể lãi tới hơn 50%/năm.

* Ví dụ: Thời điểm tháng 4

STB rơi về giá 120.000 đ/CP

REE rơi về giá 220.000 đ/CP

FPT rơi về giá 420.000 đ/CP

GIL rơi về giá 65.000 đ/CP…

* Rồi từ ngày 1/5 đến giữa tháng 5 (thời điểm chốt quyền chia cổ phiếu thưởng)

STB tăng lên giá 163.000 đ/CP

REE tăng lên giá 257.000 đ/CP

FPT tăng lên giá 578.000 đ/CP

GIL tăng lên giá 87.000 đ/CP…

Quý vị tính giùm, chỉ một CHU KỲ giá mỗi CP tăng bao nhiêu %. Trong khi quý vị có từ 4 đến 5 CHU KỲ.

Cuối cùng, để đạt được lợi nhuận tối thiểu 30% hoặc hơn nữa thì một nguyên tắc bất di bất dịch là:

“Khi quý vị mua được cổ phiếu từ thị trường giá thấp đến khi tăng giá, bán đi rồi, lãi rồi thì không bao giờ được mua ngay sang cổ phiếu khác. Hãy để tiền nằm yên. Đợi đến chu kỳ giảm mà mua vào rồi lại bán ra khi thị trường tăng…”.

Hầu hết các nhà đầu tư bám sàn, nhảy sóng (tức mua bán liên tục) chỉ lãi ra có 30%/năm mà mất ăn, mất ngủ là vì:

“Khi bán được cổ phiếu lãi rồi, lại chuyển ngay sang mua cổ phiếu khác. Lúc này, thị trường đang hưng phấn, giá đang cao, tức là thị trường đang ở đỉnh hình SIN. Theo quy luật, nó lại phải điều chỉnh giảm về đáy hình SIN. Và trong một thị trường điều chỉnh giảm thì cổ phiếu dù có tốt (như blue chips) cũng không khỏi giảm giá!”

Không đầu tư dựa trên những lời mách nước

Không đầu tư dựa trên những lời mách nước

Những điều tưởng như rất đơn giản nhưng không phải khi nào những người muốn nhảy vào thị trường chứng khoán cũng nhớ!

“Người không nghi ngờ gì cả là người chả biết gì hết” (thành ngữ Hi Lạp)

Chỉ một thời gian ngắn gần đây thôi, có hàng tá các sản phẩm và nhà cung cấp dịch vụ tài chính ra đời. Tất cả những ngân hàng, quỹ tín dụng, quỹ tương hỗ, nhà môi giới, nhà xuất bản …đều nói rằng họ có giải pháp cho nhu cầu tài chính của bạn

Hãy thận trọng trước khi nhận lời khuyên của những người bạn không biết, thậm chí có quan biết. Đừng tin vào tất cả thông tin nào trên mạng.

Mọi người thường rất giỏi che giấu mục đích của mình.

Bạn có nguồn “tin mật”?

Bạn tin người cung cấp tin chắc chắn nắm rõ chuyện nội bộ của một công ty nào đó. Bạn “đặt cược”. Và bạn đã mắc phải một trong những sai lầm nghiêm trọng nhất…

Đầu tư vào thị trường chứng khoán dựa theo vài thông tin rò rỉ từ những nguồn tin “đáng tin cậy” như vậy sẽ chỉ đi đến cùng một kết quả:

Bạn mất tiền!

Đây chính là lý thuyết “Người Anh rể” vốn không được nhiều người coi trọng nhưng lại được các nhà đầu tư rất chú ý.

Người anh rể của bạn, hay bất kì một ai đó bạn quen biết ở công ty, ở quán nhậu…nói cho bạn biết “một loại cổ phiếu sẽ khiến bạn trở thành triệu phú, hay chí ít là kiếm được một khoản”. Bạn mù tịt về chứng khoán, cổ phiếu, OTC…nhưng bạn vẫn lao đi mua hàng trăm loại cổ phiếu “trời cho” kia.

Và chỉ có một kết cục duy nhất cho nhóm người này: "Kẻ thất bại".

Bạn mua một cổ phiếu nào đó vì một “chuyên gia” trên báo hay TV nói đó là khoản đầu tư lớn?

Rất có khả năng, “chuyên gia” đó hay công ty của anh ta đang sở hữu cả một đống cổ phiếu này. Họ đang muốn bán bớt đi. Và đương nhiên, một vài lời quảng cáo như vậy trên phương tiện truyền thông sẽ là cách nhanh nhất để anh ta đạt được mục đích.

Hiện tượng này được gọi là : “Bơm và Đổ”

“Chuyên gia” của chúng ta ra sức “bơm hơi” cho sự tuyệt vời của những cổ phiếu anh ta giới thiệu rồi nhanh chóng thải hồi chúng cho những nhà đầu tư non nớt đang phấn khởi với một khoản đầu tư khôn ngoan. Chắc chắc rằng sự thật sẽ hoàn toàn ngược lại.

Không thể nói rằng tất cả các cổ phiếu được nói đến trên TV hay báo chí đều là lừa đảo. Tất nhiên vẫn có những cổ phiểu thật sự sinh lời cao. Nhưng lời khuyên cho chúng ta đơn giản là đừng bao giờ bỏ tiền vào một cái gì chỉ vì một vài “chuyên gia” nào đó khuyên thế.

Bạn có mua cổ phiếu vì bạn bạn bảo thế?

Cũng còn tùy…

Nhưng hãy nhớ: Trước khi quyết định, hãy biết chắc rằng anh bạn của bạn có “thật sự” biết về loại cổ phiếu đó không? Và hãy tự mình tiến hành một cuộc điều tra

Bạn có nên đặt niềm tin và khoản tiền khó nhọc mới kiếm được của mình vào những lời đồn đại hay mấy câu chuyện vỉa hè không?

Không!

Trong khi chúng ta luôn luôn nói rằng “hãy bỏ ngoài tai những lời đồn đại”, thử nghĩ xem trên thực tế có bao nhiêu lời đồn đại thật sự chỉ được coi là những lời đồn đại?

Hãy nhớ không bao giờ được đưa ra những ý kiến thiên vị. Hãy tự hỏi mình về những động cơ ẩn sau những lời mách nước. Điều đó sẽ giúp bạn tránh được vô số rắc rối. Quan trọng là, bạn không cần những lời mách nước.

Tất cả những cái cần để “đánh bại thị trường” chỉ là suy nghĩ thông thường, xử lý tốt thời gian và … kiên nhẫn.

Khái quát về phân tích kỹ thuật

Khái quát về phân tích kỹ thuật

Phân tích kỹ thuật

Tôi có nên mua hôm nay? Giá sẽ là bao nhiêu vào ngày mai, tuần sau hoặc năm sau? Nếu chúng ta đã biết câu trả lời của những câu hỏi có vẻ đơn giản này thì liệu việc đầu tư có khó không? Chao ôi, nếu bạn đọc cuốn sách này với hy vọng rằng phân tích kỹ thuật sẽ trả lời những câu hỏi này thì tôi e rằng bạn sẽ sớm bị thất vọng - nó không làm được. Tuy nhiên nếu bạn đọc cuốn sách này với hy vọng phân tích kỹ thuật có thể cải thiện việc đầu tư của bạn, thì tôi có tin tốt lành - nó sẽ làm được.


Lịch sử

Thuật ngữ “phân tích kỹ thuật” nghe có vẻ khó hiểu khi tìm hiểu những khái niệm cơ bản về đầu tư. Phân tích kỹ thuật đơn giản là việc nghiên cứu giá cả với biểu đồ là công cụ chính.

Gốc rễ của phân tích kỹ thuật hiện đại bắt nguồn từ Thuyết Dow, được Charles Dow phát triển khoảng năm 1900. Dù bắt nguồn trực tiếp hay gián tiếp từ thuyết Dow, phân tích kỹ thuật vẫn bao gồm những vấn đề cơ bản như bản chất của giá theo hướng, giá không kể đến tất cả thông tin đã biết, sự xác nhận và sự phân kỳ, khối lượng ảnh hưởng đến giá, sự hỗ trợ/sự chống đỡ. Và tất nhiên, chỉ sổ Dow Jones Industrial Average (DJIA) chính là con đẻ của Thuyết Dow.

Sự đóng góp của Charles Dow đối phân tích kỹ thuật hiện đại là không thể phủ nhận. Sự tập trung của ông vào sự vận động của giá chứng khoán đã làm nổi lên một phương thức phân tích thị trường hoàn toàn mới.

Nhân tố con người

Giá của chứng khoán mô tả sự nhất trí. Đó là giá mà một người đồng ý mua còn người khác đồng ý bán. Mức giá mà nhà đầu tư sẵn sàng mua hoặc bán phụ thuộc trước hết vào sự trông đợi của anh ta. Nếu anh ta trông đợi giá chứng khoán tăng, anh ta sẽ mua nó, nếu nhà đầu tư trông đợi giá giảm, anh ta sẽ bán nó. Những vấn đề đơn giản này là nguyên nhân của sự thách thức chủ yếu trong việc dự báo giá chứng khoán vì chúng liên quan đến sự trông đợi của con người. Tất cả chúng ta đều biết, con người không dễ để có thể xác định số lượng cũng như dự đoán. Thực tế này mình nó làm cho bất kỳ hệ thống thương mại cơ học nào không thể hoạt động trước sau như một.

Vì bao gồm cả con người, nên tôi chắc chắn rằng rất nhiều quyết định đầu tư trên thế giới đều dựa trên những tiêu chuẩn không liên quan. Mối quan hệ của chúng ta với gia đình, hàng xóm, ông chủ, giao thông, thu nhập, những thành công và thất bại trước kia, tất cả ảnh hưởng đến sự tin tưởng, sự trông đợi và quyết định của chúng ta.

Giá cổ phiếu được quyết định bởi những người quản lý tiền và quản lý nhà, sinh viên và người phụ thợ rèn, bác sĩ và nguời bắt ***, luật sư và công nhân xây dựng, sự giàu sang và sự thiếu thốn. Số lượng lớn người tham gia vào thị trường bảo đảm cho yếu tố thú vị và không thể dự đoán trước.

Phân tích cơ bản

Nếu chúng ta hoàn toàn tuân theo logic và tách rời được cảm xúc với những quyết định đầu tư của chúng ta, thì phân tích cơ bản mức giá xác định dựa trên lợi tức trong tương lai sẽ hoạt động một cách tuyệt diệu. Và vì chúng ta đều có những trông đợi hoàn toàn logic, giá sẽ chỉ thay đổi khi các bản báo cáo hàng quý hoặc tin tức có liên quan được tung ra. Các nhà đầu tư sẽ nỗ lực tìm kiếm những dữ liệu cơ bản “nhìn thấy được” để tìm những chứng khoán bị đánh giá thấp.

Thuyết thị trường hiệu quả phát biểu rằng giá chứng khoán mô tả tất cả những gì được biết về chứng khoán ở một thời điểm đã cho. Thuyết này kết luận rằng không thể dự báo được giá cổ phiếu vì mức giá luôn phản ánh tất cả những gì được biết về chứng khoán ở thời điểm hiện tại.

Tương lai có thể được tìm thấy trong quá khứ

Nếu giá dựa trên sự trông đợi của các nhà đầu tư thì việc biết một chứng khoán nên bán vì cái gì (tức là phân tích cơ bản) trở nên ít quan trọng hơn việc biết các nhà đầu tư khác trông đợi nó để bán vì cái gì. Điều đó không có nghĩa là việc biết một chứng khoán nên bán vì cái gì là không quan trọng. Nhưng thường có sự nhất trí khá mạnh mẽ về lợi tức trong tương lai của cổ phần mà các nhà đầu tư bình thường không thể bác bỏ.

“I believe the future is only the past again, entered through another gate.”
- Sir Arthur Wing Pinero, 1893

Phân tích kỹ thuật là quá trình phân tích lịch sử giá của chứng khoán để xác định mức giá có thể trong tương lai. Điều này được thực hiện bằng cách so sánh sự hoạt động của giá ở thời điểm hiện tại (tức là sự trông đợi hiện tại) với sự hoạt động của giá có thể so sánh trong quá khứ để dự đoán được kết quả hợp lý. Một kỹ thuật viên nhiệt tình có thể xác định rõ quá trình như là một thực tế rằng lịch sự tự lặp lại trong khi những cái khác sẽ đáp ứng để nói rằng chúng ta nên nghiên cứu từ quá khứ.

Bánh xe roulette

Theo kinh nghiệm của tôi, chỉ một phần ít các kỹ thuật viên có thể xác định mức giá tương lai một cách chính xác và kiên định. Tuy nhiên, ngay cả khi bạn không thể dự báo mức giá một cách chính xác, phân tích kỹ thuật có thể được sử dụng để làm giảm mức độ rủi ro và cải thiện lợi nhuận của bạn.

Sự tương đồng tuyệt vời nhất mà tôi có thể tìm thấy về cách mà phân tích kỹ thuật có thể cải thiện việc đầu tư của bạn là bánh xe roulette. Tôi sử dụng sự tương đồng với việc đặt chỗ trước, bởi vì người đánh bạc có rất ít quyền lực điều khiển khi so với các nhà đầu tư (mặc dù so với hành động của nhiều nhà đầu tư, đánh bạc có thể sự tương đồng phù hợp).

“There are two times in a man’s life when he should not speculate: when he can’t afford it and when he can”

- Mark Twain, 1987

Casino kiếm tiền bằng bánh xe roulette, không phải bằng việc biết con số tiếp sau sẽ là gì nhưng bằng cách tăng thêm ở mức độ nhỏ tỷ lệ cược với việc thêm “0″ và “00″.

Tương tự, khi một nhà đầu tư mua chứng khoán, anh ta không biết rằng giá của nó sẽ tăng. Nhưng nếu anh ta mua một cổ phần khi nó đang có xu hướng tăng, sau khi một lượng nhỏ được bán hạ giá, và khi lãi suất giảm, thì anh ta sẽ làm tăng tỷ lệ kiếm được lợi nhuận. Đó không phải là đánh bạc - đó là sự thông minh. Nhiều nhà đầu tư mua chứng khoán mà không thử điều khiển mức tỷ lệ.

Trái với niềm tin phổ biến, bạn không cần biết giá của chứng khoán sẽ là bao nhiêu trong tương lai để kiếm kiếm tiền. Mục tiêu của bạn nên đơn giản là làm tăng tỷ lệ những giao dịch tạo lợi nhuận. Ngay cả nếu việc phân tích của bạn đơn giản như việc xác định xu hướng dài hạn, trung hạn và ngắn hạn của chứng khoán, thì bạn sẽ có một lợi thế mà bạn sẽ không có nếu không sử dụng phân tích kỹ thuật.

Xem xét biểu đồ của Merck trong hình 1, xu hướng rõ ràng đang xuống và không có dấu hiệu của sự đảo chiều. Trong khi công ty có thể có viễn cảnh và nền tảng lợi tức tốt, điều đó không có nghĩa là mua chứng khoán của công ty cho đến khi có một vài bằng chứng cho thấy giá có xu hướng đang thay đổi.

Hình 1

Tự động hóa việc buôn bán

Nếu chúng ta chấp nhận thực tế là cảm xúc con người và sự trông đợi đóng một vai trò trong việc định giá chứng khoán, thì chúng ta cũng nên chấp nhận việc cảm xúc của chúng ta đóng vai trò trong việc ra quyết định. Nhiều nhà đầu tư cố gắng tách cảm xúc của họ khỏi việc đầu tư của họ bằng cách sử dụng máy tính để ra quyết định cho họ. Lý thuyết của “HAL”, một máy tính trong phim 2001, đang lôi cuốn mọi người.

Hệ thống thương mại cơ học có thể giúp chúng ta loại bỏ cảm xúc ra khỏi các quyết định của mình. Việc nghiên cứu bằng máy tính cũng hữu dụng để xác định cái gì đã xảy ra trong lịch sử dưới các điều kiện đa dạng và giúp chúng ta đánh giá một cách lạc quan kỹ thuật thương mại của chúng ta. Vì chúng ta đang phân tích một chủ để ít mang tính logic hơn (cảm xúc con người và sự trông đợi), chúng ta phải cẩn thận với suy nghĩ các hệ thống máy móc không đánh lừa chúng ta khiến chúng ta tưởng rằng chúng ta đang phân tích một thực thể có tính logic.

Điều đó không có nghĩa máy tính không phải là công cụ phân tích kỹ thuật tuyệt vời - chúng tuyệt đối cần thiết. Theo thành kiến của tôi, phần mềm phân tích kỹ thuật đã làm nhiều hơn bất kỳ sự kiện không điều chỉnh nào khác để làm cân bằng sân chơi cho các nhà đầu tư trung bình. Nhưng là một nhà cung cấp công cụ phân tích kỹ thuật, tôi cảnh báo bạn không để cho phần mềm ru ngủ bạn vào việc tinh tưởng thị trường logic và có thể đoán trước như máy tính bạn sử dụng để phân tích chúng.

Tại sao những người giàu càng ngày càng giàu hơn

Tại sao những người giàu càng ngày càng giàu hơn

Những người giàu có - họ là ai? Họ là những người may mắn được thừa hưởng từ cha mẹ khối tài sản khổng lồ? Là những kẻ may mắn trúng số? Hay là những người chắt chiu, bằng công sức và trí tuệ của mình tạo nên sự nghiệp? Tất cả những điều trên đều đúng - họ là những người giàu có. Nhưng, có một thực tế rằng, những người giàu có đang trở nên ngày càng giàu có hơn. Những con người giàu có đang càng ngày bắt đồng tiền của mình sinh sôi một cách hiệu quả.

Hãy giữ lấy những ý tưởng kinh doanh mới mẻ

Khi tôi mới lớn (vào những năm 1960), cha mẹ tôi đã nói với tôi rằng: “Hãy lắng nghe những người lớn tuổi .Con cần phải học hỏi từ sự từng trải và trí tuệ của họ. Một ngày nào đó khi con già đi thì những người trẻ tuổi sẽ lắng nghe con nói. Vì vậy tôi đã lắng nghe cha mẹ mình với sự khâm phục hiểu biết của những người lớn tuổi.

Nhưng ý tưởng đó nay đã bị đảo ngược trở lại: Ngày nay, nhưng người trẻ tuổi như tôi cần phải đánh giá cao sự hiểu biết của những nguời trẻ hơn chúng tôi.

Ý tưởng từ những người trẻ tuổi hơn

Trong kinh doanh, sự thành công thường đến từ sự mới mẻ trong những ý tưởng của bạn. Tuy nhiên, ngày nay, con người ở mọi lứa tuổi đều gặp khó khăn vì những ý tưởng của họ không chỉ cũ mà đã lỗi thời.

Một ví dụ của ý tưởng lỗi thời là công việc truyền thống. Công việc là một khái niệm cũ đã tồn tại hàng thế kỷ, được tạo ra trong suốt cuộc cách mạng công nghiệp. Mặc dù sự thực là chúng ta đang ở trong thời đại Thông Tin, nhưng nhiều người vẫn đang học, đang làm việc, với ý tưởng lỗi thời của thời đại công nghiệp: một công việc an toàn và chắc chắn.

Bây giờ con người không chỉ đơn thuần mất công việc: chúng bị chuyển ra nước ngoài hay cùng nhau biến mất. Như Alan Bliner, một nhà kinh tế và cựu Phó Chủ tịch của Ủy ban lãnh đạo Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, nói: “một cuộc cách mạng công nghiệp mới, kỹ thuật truyền thông cho phép các dịch vụ được điều khiển điện tử từ xa - sẽ đăt khoảng 40 triệu công việc của người Mỹ trước nguy cơ sẽ bị chuyển ra khỏi ngoài đất nước này trong một hay hai thập kỷ tới”. Con số đó cao gấp hai lần số công nhân Mỹ trong ngành chế tạo hiện nay.

Mặc dù có những con số đáng báo động như vậy, trường học của chúng ta vẫn lập trình cho những đứa trẻ đang tìm công ăn việc làm. Lời khuyên cho mọi người tới trường để học để trở thành một người lao động cũng lỗi thời như lời khuyên tới những bạn trẻ trở thành người nông dân và làm việc cho một địa chủ. Mọi người cần được đào tạo để trở thành nhà đầu tư và nhà doanh nghiệp chứ không phải là người làm công.

Lỗi thời trong vòng 18 tháng

Quan điểm của tôi là: Để nhanh chóng thay đổi thế giới, không có gì nguy hiểm hơn là những ý tưởng đã lỗi thời. Bạn hãy nhìn vào Amazon.com đã làm thay đổi những công ty bán sách hàng đầu thế giới như Borders và Barnes & Noble hay việc Skype hạ gục công ty kinh doanh khổng lồ như AT&T. Bạn có biết được nơi mà những người lao động cho các ông chủ của thời đại công nghiệp sẽ làm trong 10 năm tới không?

Như tôi đã nói, mọi người không mất công việc của họ - mà là những công việc và công ty đang dần biến mất. Rất may là tôi đã nghe người cha giàu có của tôi và trở thành một doanh nhân chứ không phải là trở thành một người lao động như người cha nghèo của tôi muốn.

Phần lớn mọi người ngày nay nhận ra rằng kiến thức được nhân đôi trong vòng 18 tháng . Điều đó có nghĩa là cứ mỗi 18 tháng, chúng ta trở nên lạc hậu? Có thể là như vậy. Riêng cá nhân tôi, nó làm tôi thấy nhu cầu cần nhận thức rõ ngày hết hạn cho ý tưởng của mình, và cập nhật chúng thường xuyên.

Vài người cùng độ tuổi như tôi rất lo lắng về tài chính bởi vì họ họ có những ý tưởng già cỗi của thời đại công nghiệp mà họ không bao giờ chịu cập nhật: muốn công việc ổn định, tính toán lương hưu để đảm cho cuộc sống, tin tưởng vào sự bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế. Với những tư tưởng đó của thời đại Công nghiệp, họ sẽ phải nỗ lực để sống sót trong thời đại Thông tin.

Đó là một sai lầm lớn. Phần lớn thu nhập của công ty tôi là từ Web, mặc dù tôi vẫn còn sử dụng điện thoại. Công ty tôi tồn tại được bởi vì chúng tôi đã biết đánh giá cao những ý tưởng của những người trẻ hơn chúng tôi và tôi nhận ra rằng sự hiểu biết của tôi thì đã quá lỗi thời.

Những ý tưởng kinh doanh sống mãi với thời gian

Mặc dù có nhiều ý tưởng kinh doanh được đưa ra hàng ngày, vẫn có những ý tưởng kinh doanh có giá trị trong mọi thời đại và mọi lĩnh vực. Sau đây là một vài ý tưởng đó:

- Hãy say mê sản phẩm và thương hiệu của bạn. Một thương hiệu sẽ chết khi người lãnh đạo ngừng say mê hoặc mục đích của ông ta đơn giản chỉ là kiếm tiền.

- Xây dựng một cộng đồng. Người doanh nhân tốt là người xây dựng cộng đồng, hành động với cộng đồng và cống hiến cho sự thịnh vượng của cộng đồng. Nếu bạn cống hiến cho cộng đồng của bạn thì nó sẽ cống hiến lại cho bạn.

- Giao tiếp rõ ràng, minh bạch. Hãy nói bằng ngôn ngữ của khách hàng. Đừng cố gắng tỏ ra thông minh hơn khách hàng bằng cách nói ngững từ chuyên môn.

- Hãy nói bằng sự thực, đừng giả dối..Trong kinh doanh, có nhiều người sẽ nói bất kỳ điều gì miễn là họ lấy được tiền từ bạn.

- Hãy là một người bình thường. Đừng sợ nói “tôi không biết” hay “bạn có thể giúp tôi không?”. Nếu bạn là một người lãnh đạo tốt, mọi người sẽ vui vẻ giúp đỡ bạn xây dựng công việc kinh doanh của bạn.

Bây giờ và cả sau này, chúng ta cần cẩn thận khi lắng nghe người khác. Một người lớn tuổi hơn bạn không có nghĩa là họ sẽ thông minh hơn bạn. Những ý tưởng của họ có thể là tốt cho ngày hôm qua, nhưng nó có thể đã là lạc hậu vào ngày mai.

Voi không biết phi nước đại

Voi không biết phi nước đại

Một trong những cuộc tranh luận nảy lửa nhất trong giới đầu tư là liệu đầu tư vào những công ty lớn nhất, dẫn đầu thị trường hay những công ty nhỏ hơn nhưng tăng trưởng nhanh thì tốt hơn? Lịch sử của những tranh luận này cũng kinh điển không kém những phân định muôn thuở giữa rủi ro và lợi nhuận trong đầu tư.

"Voi không bao giờ phi nước đại"
elephant3.jpgBạn đã bao giờ thấy một chú voi “phi nước đại” chưa? Chắc hẳn là chưa rồi, hình ảnh những chú voi nặng nề di chuyển chậm chạp, thong thả có vẻ như quen thuộc hơn. Trong đầu tư người ta thương nói "voi không phi nước đại" với ngụ ý rằng các công ty lớn rất khó có thể tăng trưởng với tốc độ “phi mã”. Quan điểm này rằng nếu muốn thắng lớn trên thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư nên tìm đến các loại cổ phiếu tăng trưởng của những công ty nhỏ, thay vì cổ phiếu “ăn chắc mặc bền” của các “ông voi”.

Thế nào là công ty qui mô nhỏ
Trước tiên có thể dựa vào tiêu chí qui mô vốn hóa thị trường. Đương nhiên, bản thân chỉ tiêu vốn hóa thị trường cũng không phải là một chỉ tiêu cứng nhắc và bất biến. Giả như một công ty AIM nào đó được đưa lên tờ Sunday, và giá cổ phiếu của nó bỗng nhiên tăng 30%, thì đó có thể là một bước nhảy vọt qua ranh giới của những con số. Chỉ sau một đêm, một công ty có thể từ qui mô nhỏ trở thành một công ty qui mô vừa, cho dù doanh số, thu nhập của nó thì không có gì thay đổi.

Một số nhà phân tích khác lại cho rằng qui mô vốn hóa thị trường không hẳn đã là một thước đo tốt để đánh giá xem một công ty là lớn hay nhỏ. Một công ty kinh doanh trực tuyến có thể có qui mô vốn hóa thị trường 500 triệu USD, nhưng nếu doanh số của nó chỉ đạt $193.000 và thua lỗ đầm đìa, liệu nó có thực sự là một công ty lớn hay không? Theo quan điểm này, để xác định thế nào là công ty nhỏ hãy tạm quên đi chỉ tiêu qui mô vốn hóa thị trường và, thay vào đó, tập trung vào những đặc điểm thường gắn với những công ty loại này, đó là:

o Thiếu vắng các hoạt động nghiên cứu
o Cổ phiếu có mức chênh lệch giá bán - mua rất rộng
o Tính thanh khoản thấp

Đây có vẻ như là một cách nhìn khá tiêu cực nhưng lại thực tế về các công ty qui mô nhỏ.

Tại sao lại chọn công ty nhỏ?
Khả năng đem lại tỉ suất suất lợi nhuận cao
Lựa chọn được đúng các công ty nhỏ để đầu tư có thể đem lại tỉ suất lợi nhuận cao gấp nhiều lần thị trường. Tăng gấp 3 lần doanh thu và lợi nhuận với một công ty nhỏ dễ dàng hơn nhiều so với một công ty tầm cỡ, đơn giản vì các công ty nhỏ bao giờ cũng có qui mô ban đầu nhỏ bé hơn, xuất phát điểm thấp hơn.

Dễ phân tích
Các công ty nhỏ bao giờ cũng dễ phân tích hơn, bức tranh tổng thể dễ nắm bắt hơn. Sẽ có ít cơ hội cho những gian lận về mặt sổ sách kế toán, và nếu đó lại là một công ty có hoạt động đơn giản, ở một quốc gia duy nhất thì cũng không có chỗ cho những màn “phù phép” thông qua sự đánh đổi tỷ giá.

Không được giới đầu tư chuyên nghiệp để ý
Các tổ chức đầu tư thường hướng sự tập trung nghiên cứu của họ và những công ty có qui mô lớn tầm từ 500 triệu USD trở lên. Các khách hàng của họ thường giao dịch với khối lượng lớn, điều không thể làm được với một công ty nhỏ và bản thân các quĩ bao giờ cũng thích sở hữu các cổ phiếu dễ mua đi bán lại. Vì lý do này mà các công ty nhỏ thường ít được ngó ngàng tới, bỏ ngỏ cơ hội cho các nhà đầu tư cá nhân.

Tuy nhiên khả năng đem lại lợi nhuận cao bao giờ cũng đi kèm với rủi ro cao. Giá cổ phiếu của các công ty nhỏ thường biến động rất mạnh. Sự chiếm lĩnh thị trường của các nhà đầu tư có tổ chức và sự ưa chuộng mà họ dành cho các công ty lớn cũng đồng nghĩa với việc nhu cầu với cổ phiếu của các công ty nhỏ không cao. Do đó, nhìn chung các cổ phiếu nhỏ thường bị đánh giá thấp hơn bình quân thị trường và tính thanh khoản thường kém hơn.

Cổ phiếu tăng trưởng có nhất thiết phải là cổ phiếu nhỏ?elephant_125.jpg
Lật ngược lại vấn đề trên, liệu những con số phát triển kiểu như 100%/năm chỉ có ở những công ty nhỏ? Không hẳn vậy vì cổ phiếu của Coca Cola đã tăng giá 4 lần trong giai đoạn 1988 đến 1991. Cổ phiếu của WPP, hãng quảng cáo lớn của Anh cũng tăng từ 202p vào 10/1998 lên 1068p vào 2/2000 - với tốc độ tăng trưởng bình quân năm đạt 103.8%. Do vậy câu "voi không biết phi nước đại" nên được điều chỉnh lại thành "voi hiếm khi phi nước đại".

Tuy nhiên, có một điều kỳ lạ là ở Việt Nam, hình như “chỉ voi mới phi nước đại”? Nếu lướt qua sàn HoSTC hàng ngày, chúng ta có thể thấy những “voi” như FPT, BMC, SJS rất thường xuyên xuất hiện trong danh mục thống kê những cổ phiếu biến động nhiều nhất. Thực ra thị trường chứng khoán Việt Nam còn quá non trẻ, nên ngay cả những cổ phiếu được mệnh danh là “bluechip” cũng chưa đạt đến đẳng cấp xứng đáng để được coi là “voi” thực sự. Hơn nữa, một phần không nhỏ nhà đầu tư Việt Nam vẫn chạy theo phong trào, theo tâm lý số đông. Sẽ còn phải mất một thời gian nữa để thị trường chứng khoán Việt Nam đi vào ổn định, khi mà giá cổ phiếu phản ánh tương đối chính xác giá trị thực của nó thì nhà đầu tư Việt Nam mới bàn đến việc “voi” của chúng ta có thể “phi nước đại” hay không?

Nếu có một nguyên tắc cơ bản trong đầu tư vào cổ phiếu nhỏ thì đó là nên tìm mua những cổ phiếu của những công ty tốt tại những mức giá hợp lý.

Thế nào là một công ty tốt?
Quản trị
Hãy cố gắng tìm hiểu chất lượng của đội ngũ quản trị công ty, kinh nghiệm hoạt động của họ trong ngành, cổ phần nắm giữ, những thành tích đạt được, và xem họ đã bao giờ dính dáng vào thất bại của công ty nào chưa.

Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp
Đó là một doanh nghiệp với tỉ suất lợi nhuận cao hay thấp, nó bị ảnh hưởng như thế nào trước sự cạnh tranh giá cả của các đối thủ. Vị thế của doanh nghiệp có được bảo vệ bằng lợi thế cạnh tranh vững chắc không?

Thành tích về doanh thu và lợi nhuận
Công ty có con số ấn tượng về doanh thu và lợi nhuận tăng liên tục trong 5 năm qua, cùng với mức chi trả cổ tức ổn định, hay doanh nghiệp đó lại có tình hình kinh doanh đầy biến động?

Dòng tiền
Một số doanh nghiệp lãng phí tiền mặt, trong khi một số khác lại rất biết cách sử dụng. Lý tưởng nhất sẽ là một công ty biết cách tạo ra thay vì chỉ biết “đốt” tiền mặt.

Triển vọng phát triển
Hãy xem xét qui mô công ty và vị thế hiện tại của nó trên thị trường cũng như những xu hướng tổng thể và xu hướng phát triển về kinh tế, liệu đó có phải là một doanh nghiệp có tiềm năng không? Nó có khả năng tăng trưởng "phi mã" hay không nếu có thời cơ, và liệu đội ngũ quản lý có đủ năng lực để kiểm soát nổi mức tăng trưởng như vậy?

Bạn có thể mua nó với một mức giá hợp lý không?
Tìm được một công ty tăng trưởng chất lượng tốt không phải là việc quá khó, vấn đề đáng quan tâm hơn là làm thế nào mua được cổ phiếu của những công ty này ở một mức giá hợp lý. Cần lưu ý ở đây là bạn đang tìm kiếm một mức giá hợp lý chứ không phải một mức giá "hời", vì nếu thế bạn có thể sẽ không bao giờ tìm nổi một cổ phiếu mà đầu tư. Một trong những bí quyết của Warren Buffet là để thành công bạn không nhất thiết phải đầu tư vào những công ty hùng mạnh với cái giá ngất ngưởng mà chỉ cần tìm những công ty tốt với mức giá vừa phải.

Vậy thế nào là "mức giá hợp lý"? Tiêu chí đánh giá ở đây là tỉ số P/E - giá trên thu nhập cổ phiếu. Hãy cảnh giác với các công ty có P/E quá cao (trên 50) vì rủi ro gắn liền với các công ty này cũng cao tương ứng, và nếu công ty không thỏa mãn được kỳ vọng của thị trường thì cổ phiếu của nó rất có thể sẽ sụt giá thê thảm. Bên cạnh đó, cũng không nên chọn những công ty có P/E quá thấp (dưới 10). Có thể thị trường có những thông tin gì đó về công ty này mà bạn không biết, hay đó có thể đơn giản là một công ty chả có gì hấp dẫn với triển vọng nghèo nàn. Nói chung, các nhà đầu tư có thể dùng P/E và chỉ số phái sinh của nó là PEG làm chỉ số quyết định để lựa chọn đầu tư vào các công ty nhỏ, hoặc họ cũng có thể chỉ coi đó như những thông tin bổ sung để có được những đánh giá hoàn chỉnh hơn về công ty.

Voi hay …
Đầu tư vào cổ phiếu tăng trưởng của các công ty nhỏ hay đầu tư vào những cổ phiếu đầu tàu trên thị trường? Điều này rốt cuộc hoàn toàn phụ thuộc vào phong cách đầu tư và khẩu vị rủi ro của mỗi người, sẵn sàng chấp nhận mức đánh đổi lợi nhuận – rủi ro đến đâu thì đầu tư theo đến đó. Vẫn biết “voi không thể phi nước đại”, nhưng không phải nhà đầu tư nào cũng thích đầu tư vào những cổ phiếu có khả năng “phi nước đại” để tìm kiếm cảm giác mạnh!

Blog Archive

About me